2011-12-04 22:37:57
Sáng nay, một người bạn gửi cho tôi một bài thơ được lảy ra từ một công trình tuyển chọn trong gần 200 bài thơ của 150 nhà thơ có mặt trong tập "Thơ hay Việt Nam thế kỷ XX" do Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi và nhà thơ Quang Huy tuyển chọn (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin liên kết với công ty Văn hóa trí tuệ Việt ấn hành năm 2006) Đó là bài:
Thương nhớ
Nguyễn Hồng Hà
Thế là tao đợi chết già
Chứ không chết trẻ như là tụi bay
Tụi bay đi…thật tiếc thay
Những thằng lính trận hây hây má hồng.
Tụi bay chưa biết phải lòng
Cuộc đời trai, những chấm hồng trong tranh
Nhoàng một cái! Thế là "xanh"
Chiến trường còn lại những anh lính già
Lính già thắng trận về nhà
Bao nhiêu tội vạ tà tà chia nhau
Thằng còn mảnh đạn trong đầu
Bỗng dưng quẳng áo đi đâu khỏi làng.
Có thằng nhiễm chất da cam
Đẻ con dị tật lại càng xót xa
Thoáng tân hôn vợ đã già
Có chồng thêm khổ, chẳng thà nằm không.
Đi đêm đâu lạc đường rừng
Giữa đường cái rộng vấp sưng mặt mày
Ngủ trong hầm hố thì say
Chiến tranh vật vã ở ngay trên giường.
Bây giờ cách trở âm dương
Bao giờ mới vợi nhớ thương tụi mày.
1997
Bài thơ được Phan Bá Ất giới thiệu qua bài viết:
Nỗi ám ảnh từ một bài thơ
Đọc "Thương nhớ", tôi muốn khóc, tâm hồn trĩu nặng một ám ảnh khôn nguôi. Có lẽ cũng không cần phải giải thích và bình luận nhiều bởi bài thơ rất dễ hiểu và viết về một đề tài, rất quen thuộc, rất thật, viết thơ như nói chuyện đời thường. Vậy nhưng, đó lại là đề tài rất nhậy cảm, dễ gây xúc động. Một khi đề cập đến nó thì ai cũng muốn bàn, muốn nói ít nhiều- Đề tài về chiến tranh! về số phận con người!
Bài thơ viết về người chiến binh thời hậu chiến nhớ thương những đồng đội đã từng chia lửa, sống chết có nhau nơi chiến trường lửa đạn. Đó là lời nói chuyện của một người đang sống với những linh hồn của đồng đội đã chết bởi cuộc chiến ác liệt đã sớm cướp đi cuộc sống của họ. Nói và kể với người đã chết như nói và kể với người đang sống trước mặt. Kể và nói với bạn vừa thân mật, an ủi, vừa như có cả đùa cợt, khôi hài, chua chát, lạnh lùng trước những thực tế tàn nhẫn mà chính họ và đồng đội phải chịu đựng.
Hai khổ thơ đầu, ngôi thứ nhất "Tao" nói với ngôi thứ hai "Tụi bay" về chính "tụi bay", những người đã chết! Những đồng đội thân yêu của "Tao" đã bị chiến trận cướp đi giữa tuổi thanh xuân
"Thế là tao đợi chết già
chứ không chết trẻ như là tụi bay"
Cái chết đối với "Tao" (có thể là tác giả) quan niệm như một sự bình thường, kẻ trước người sau :"Thế là taođợi chết già" chẳng hiểu đây là sự may mắn hay sự bất hạnh, tiếc nuối không được chết trẻ. Từ"Thế là" như sự an bài, còn từ"Đợi" như một sự mong ngóng. Thật là nghịch lý, xót xa. Vậy mà sự chết vẫn là một mất mát không mong muốn?
"Tụi bay đi… thật tiếc thay
Những thằng lính trẻ hây hây má hồng"
Quỹ sống của những người lính trẻ chết trận chẳng được là bao. Những chàng trai vừa lớn lên, dào dạt sức sống, đẹp đẽ thần tiên "Hây hây má hồng", đầy trong sáng, triển vọng và tương lai rực rỡ, đẹp như "những chấm hồng trong tranh". Những chàng trai chưa hề biết yêu, được yêu "Chưa biết phải lòng" nói theo cách nói cổ xưa, dân dã. Những chàng trai trẻ trung, mới lớn, sớm phải rời xa quê hương, gia đình, bố mẹ và những người thân; rời xa đồng ruộng, nhà máy, mái trường, lên đường ra tuyến lửa. "Thật tiếc thay" Phút chốc họ đã hy sinh trong lửa đạn
"Nhoàng một cái! thế là "xanh"
Chiến trường còn lại những anh lính già"
Tuổi trẻ hăng hái và dũng cảm. Họ dễ lập chiến công đấy! và cũng dễ hy sinh đấy. Một thời "dân lính" thường có câu "Chết xanh cỏ, sống đỏ ngực" như một sự xác định rất rõ ràng trước khi ra trận! và như một quy luật, cái mất đi và cái còn lại. Nghịch lý "lá xanh rụng xuống, lá vàng trên cây" ở trường hợp này là một lẽ đương nhiên xa xót.
Nói với người thân, bạn bè đồng đội đã chết, thuộc về cõi tâm linh, mà không cần cầu kỳ, khách sáo, trang trọng. Ở đây, ta thấy ngôn ngữ thân mật, bỗ bã, đầy chất trẻ trung, khôi hài pha sự riễu cợt chua chát, một thứ ngôn ngữ có cả chất "bụi", rất "quậy", rất "Lính". Các đại từ "Tao", "Tụi bay", "Thằng", những động từ, danh từ chỉ vận tốc thời gian, chỉ cái chết "Nhoàng một cái thế là xanh ", "Tụi bay đi…thật tiếc thay", đó là ngôn ngữ mà thường nhật sống bên nhau họ vẫn quen dùng.
Ba khổ sau, "Tao" (tác giả) nói với bạn bè "Tụi bay" đã mất, về những "thằng" "lính già" còn sống.
Lính già thắng trận về nhà
Bao nhiêu tội vạ tà tà chia nhau
Đó là những kẻ "Chiến thắng". Khi nói "Tà tà" "chia nhau; khiến ta quen gặp, quen nghe, tưởng như phải hiểu là hãy từ từ , đừng vội vã, ai cũng có phần. Đó hẳn phải là phúc phần, lộc phần vậy. Thế nhưng ở đây lại là họ chia nhau gánh vác tội vạ và bất hạnh, những di chứng, hậu quả của chiến tranh khốc liệt, tàn nhẫn! Không cười sao được? không khóc sao được khi "Tà tà " "chia nhau" như thế? xót xa thay! Ta hãy xem họ được chia và được hưởng những phần nào?
Thằng còn mảnh đạn trong đầu
Bỗng dưng quẳng áo đi đâu khỏi làng
Chỉ hai câu, đã nói rõ cả nhân quả. Vậy mà "Bỗng dưng", sao lại "Bỗng dưng"? Phải! Anh ta đang sống bình thường, anh ta bỗng điên, anh ta tâm thần, anh ta không còn là anh ta, anh ta không biết anh ta là ai? Sống mà không tỉnh, sống mà điên loạn. sống mà chẳng là người!
Và đây:
Có thằng nhiễm chất da cam
Đẻ con dị tật lại càng xót xa
Thoáng tân hôn vợ đã già
Có chồng thêm khổ, chẳng thà nằm không
Nhân và quả rõ ràng, không cần bình luận, giải thích, tự nó đã nói tất cả, một cách tường minh. Di hại của cuộc chiến đã để lại cho không chỉ một, hai thế hệ, con người bị thay đổi cả gien di truyền, có thể vô sinh hoặc cho ra đời những sinh linh tật nguyền, quái dị! Thực tế chúng ta đã chứng kiến không ít những mảnh đời, những số phận như thế mà những người lính hậu chiến phải gánh chịu, những người thân, những người ruột thịt của họ phải gánh chịu. Không hiểu hai câu cuối của khổ thơ là lời than vãn, sự gào thét của những người lính không thể làm chồng, làm bố, hay của những người phụ nữ không được làm vợ, làm mẹ, hoặc làm vợ mà không được làm vợ, không được làm mẹ? Than ôi! Một trong những Thiên chức và hạnh phúc của người phụ nữ là được làm vợ và làm mẹ. Bao nhiêu phụ nữ thời chiến đằng đẵng chờ đợi để thực hiện được hạnh phúc đó. Còn gì đau khổ hơn cảnh ngộ làm họ phải thốt lên"Có chồng thêm khổ chẳng thà nằm không".
Những người lính đã từng trải qua biết bao những thử thách cam go, gian khổ. Họ đã từng vượt qua bao rừng sâu, đèo cao, vực thẳm, bao nhiêu sông suối thác ghềnh. Họ đã từng xông pha trận mạc, anh dũng, kiên cường trước mưa bom, bão đạn. Họ đã đứng vững và chiến thắng. Vẫn những con người đó, thời hậu chiến, họ lại gặp những thử thách làm người, thử thách nhân cách, thử thách lòng dũng cảm chịu đựng những bất hạnh ngang trái khó lòng vượt qua. Chẳng những họ phải chịu đựng những bất hạnh của cuộc đời riêng tư, di hại chiến tranh mà họ còn phải chứng kiến và chịu đựng những thử thách, vấp váp nhiều bình diện của cuộc đời vốn có nhiều nghịch lý, bất công!
Đi đêm đâu lạc đường rừng
giữa đường cái rộng vấp xưng mặt mày
Ngủ trong hầm hố thì say
Chiến tranh vật vã ở ngay trên giường
Lại gặp hai câu thơ một, tương phản nhau. Cùng một sự việc, câu trên diễn ra trong chiến tranh, câu dưới diễn ra trong hòa bình.
Trong chiến tranh, dù đi trong rừng âm u, gai góc, giữa đêm tối, khó xác định đường lối, phương hướng chăng nữa, người chiến sỹ không bao giờ bị lạc. Ta hiểu cả nghĩa đen và nghĩa bóng của câu thơ. Đường hướng địa lý và đường hướng cuộc đời!
Vậy mà trong hòa bình, hậu chiến, dù đi trên đường rộng thênh thang, giữa ban ngày, người chiến binh một thời ngang dọc và đầy bản lĩnh đó, vấp ngã! tất nhiên ta cũng hiểu cả nghĩa đen và nghĩa bóng của sự vấp ngã này. Vấp ngã đường đi do tật nguyền chân, mắt? vấp ngã đường đời bởi nghịch cảnh éo le?
Trong chiến tranh, giữa bom đạn đe dọa sự sống, người chiến sĩ vẫn vô tư ngủ ngon lành trong hầm hố, dẫu ở đó chưa có gì đảm bảo chắc chắn cho sự sống. Hình như lúc đó chỉ có bom đạn là thử thách duy nhất người lính, dẫu khốc liệt nhưng không làm họ bất an một khi họ đã xác định sống chết là sự thường tình của người lính trận.
Trong thời bình, được nằm trên giường chiếu êm rộng, trong không gian yên tĩnh, trong tình cảm của gia đình, quê hương thân yêu thì họ lại phải "Vật vã", đau đớn, quằn quại, khốc liệt, bất an hơn rất nhiều lần những thử thách đạn lửa chiến trường. Làm sao có được những giấc ngủ ngon như ở hầm hố ngày xưa? Ta liên tưởng đến sự hành hạ của những cơn bệnh hiểm nghèo, cơn đau dữ dội bởi những tật nguyền, những thương tích mà người chiến sỹ phải đương đầu trên giường bệnh. Ta liên tưởng tới những nỗi đau thể xác và tinh thần của người chiến sĩ, kể cả những bất lực, mâu thuẫn và hậu quả đáng buồn trong chuyện gối chăn: "Chiến tranh vật vã ở ngay trên giường". Ta hiểu đây lại là trận chiến hơn cả những trận chiến họ đã từng gặp lúc chiến tranh. Đây là chiến tranh hơn cả chiến tranh! khó lòng chiến tháng.
Chúng ta dễ gặp những bài thơ lục bát, thể thơ như quốc thi của dân tộc ,đầy chất trữ tình, thơ mộng, hình ảnh đẹp, câu thơ nhuần nhụy, âm vận, nhạc điệu gợi cảm
"Thương nhớ" được viết dưới thể thơ lục bát quen thuộc, nhưng không thuộc loại bài thơ như vậy. Tuy nó không lộng lẫy văn chương, hình ảnh, từ ngữ, triết lý không cầu kỳ, cao xa, không có những yếu tố như nhiều bài lục bát hay gặp, nhưng ai đọc nó mà không rơi nước mắt. Bài thơ viết như nói, "ráo hoảnh" nhưng tràn ngập nỗi đau và tình "Thương nhớ" đồng đội, những số phận, kiếp người. Chẳng thấy triết lý truy tìm nguyên nhân cái chết hoặc những bất hạnh, không thấy một lời oán trách. Chỉ có kể lể, giãi bày, liệt kê những nỗi khổ đau, bất hạnh, cái "Bình đẳng" của kiếp chiến binh: "Chết" và "Sống như chết". Tính cụ thể, tính điển hình, tính khái quát trong kể lể, giãi bày này cũng rất tự nhiên mà chọn lọc. "Thương nhớ" gieo vào chúng ta nỗi ám ảnh khôn nguôi về những khốc liệt của chiến tranh, những hậu quả do chính con người đem lại. "Thương nhớ" đánh thức nỗi đau, lương tâm, trách nhiệm của cả nhân loại tiến bộ. Không phải ngẫu nhiên nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi và Quang Huy chọn "Thương nhớ" là một trong ngót 200 bài thơ hay của thế kỷ hai mươi. Tôi hoàn toàn tâm đắc, tán thành với quan điểm và nhận định khái quát về thơ ở lời nói đầu của tuyển tập đã nêu:
"Thế nào là bài thơ hay thì không phải ai cũng cảm nhận như nhau. Sự cảm thụ ấy do trình độ nhận thức, trình độ văn hóa, gu thẩm mỹ, sự từng trải và tâm hồn của từng người quyết định.
Có bài thơ đọc xong, lòng ta rưng rưng muốn khóc. Có bài thơ câu chữ tinh tế, điêu luyện, niềm thích thú cứ reo vui trong lòng ta mãi. Có bài thơ giản dị mà thấm thía nỗi đời. Có bài thơ khơi dậy trong ta những cảm xúc mới mẻ, những ám ảnh khôn nguôi…". Và tôi đang khóc, và tôi đang chịu những ám ảnh khôn nguôi của "Thương nhớ".
Và cũng như tác giả Phan Bá Ất- cách đây vài năm khi đọc bài này tôi cũng đã đọc trong nỗi đau thăt lòng. Nhưng cũng đọc trong nỗi mừng khi một trong nhiều những bài thơ tương tự được chọn in trong một công trình thơ của những nhà thơ nổi tiếng. Nhân giới thiệu bài thơ Thương nhớ của Nguyễn Hồng Hà, tôi xin giới thiệu thêm một trong những bài thơ viết trong nước mắt của người lính già Trần Xuân Gứng ( Hiện đang nghỉ hưu ở Kỳ Phú- Kỳ Anh- Hà Tĩnh)
KHÓC BẠN
Trần Xuân Gứng
Cựu chiến binh, Kỳ Phú, Kỳ Anh, Hà Tĩnh

Từ trái qua: Lê Bá Dương - Trần Xuân Gứng - Lê Văn Dưỡng
đang thả hương hoa viếng đồng đội tại bến Tắt - Thượng nguồn
sông bến Hải (ảnh chụp tháng 7 năm 2007)
Tau với mi lớp 60, 59.
Tau ở trong giới tuyến đi ra
Đảo Bạch Long đông bắc nới xa
Mi cũng vội về lục quân dự lớp
3 năm trời dùi mài đèn sách
Cùng súng gươm võ nghệ miệt mài
Khi ra trường đi mỗi đứa một nơi
Cuộc kháng chiến đã vào thời ác liệt
Giải phóng miền nam ta kể gì sống chết
Nam nhi đi cho thỏa chí tang bồng
Mũ tai bèo với mấy bộ đồ thâm
Khi mới nhận cứ đùa nhau mũ con quần vợ
Nói là nói vậy để cho đỡ nhớ
Vào chiến trường đâu mà có vợ gần con
Thương cho mi tranh thủ được 3 hôm
Về cưới vợ để bà già yên dạ
Chiến trường rộng mỗi đứa đi mỗi ngả
Trong lớp mình tau chẳng gặp được ai
Cho đến khi chiến dịch 72
Tau vội gặp được mi trong thành cổ
Chuyện lớp chuyện trường, chuyện nhà chuyện vợ
Chuyện ran hầm chẳng sợ đạn bom
Bạn lâu ngày mi tổ chức liên hoan
Một hộp thịt với lương khô 71
Sau bàn giao mi thay tau lên chốt
Tau được về củng cố ở Gio Cam
Năm ngày sau tau đau đớn bàng hoàng
Qua điện thoại nghe tin mi đã chết
Thông mi ơi từ nay vĩnh biệt
Biết bao giờ tau gặp lại được mi
3 giờ sau kí hiệp định Pa-Ri
Tau vội xuống nơi mi vừa ngã
Xuống tới nơi lòng tau mới rõ
Mi chết trong một tư thế kiên cường
Tau hỏi mồ thắp mấy nén hương
Hỏi ai cũng thở dài thất vọng
Sau 75 tau ra an dưỡng
Tìm đường về thôn thượng quê mi
Lòng tau mong đền đáp những gì
Với tình bạn kẻ đi người còn ở
Mải suy nghĩ tau bước chân vào ngõ
Một túp lều nắng gió đã tồi tàn
Vách che bằng lá mía làm phên
Thứ vật liệu quê mi thường có
Nhà trống trải giành gian ở giữa
Treo ảnh mi đã úa màu vàng
Bên dưới bằng tổ quốc ghi công
Nhìn lên ảnh mi đang trầm tư suy nghĩ
Vợ mi gầy yếu buồn rầu ngồi kể
Sau Mậu Thân anh được ghé về nhà
Được hai hôm anh lại đi xa
Việc quân sự vợ con đâu mà giám hỏi
Bà mẹ 70 vui mừng khấp khởi
Nhìn con dâu bà sắp có cháu bồng
Cho đến khi đứa trẻ lọt lòng
Đau đớn nỗi ai mà thấu hiểu
Nhìn đứa trẻ hồng hào trắng trẻo
Sinh con ra không thiếu tháng thiếu ngày
Mà đứa con dị dạng chân tay
Đã mười tuổi không biết cười biết nói
Bà đau khổ đi con đồng thầy bói
Ngỡ mồ mả ông cha động phạm ai làm
Không ngờ đâu màu chất độc da cam
Bố cháu ở chiến trường về mang bệnh
Nghe vợ mi nói trong người tau ớn lạnh
Nghĩ trong mình cũng đã nhiễm da cam
Đâu ở chiến trường mà chịu đạn bom
Hậu quả chiến tranh vợ con mình gánh chịu
Thương bà mẹ tuổi già sức yếu
Từ khi mi có giấy báo tử về
Như cây khô đã mất lộc hết hòe
Sức tàn kiệt cũng sầu vì con cháu
Thông mi ơi suối vàng mi có thấu
Toàn dân đang uống nước nhớ nguồn
Mẹ mất rồi cũng được tặng anh hùng
Vợ mi ở vậy một lòng tiết phụ
Đau đớn này làm sao xiết kể
Cảnh nhà mi ai cũng dễ động lòng
Nhìn bên ngoài nhà ngói tường hồng
Nhà tình nghĩa xây bằng lòng nhân đạo
Ai có biết vết thương còn rỉ máu
Đứa con mi là cáo trạng chiến tranh
30 tuổi đầu lứa tuổi trưởng thành
Con mi vẫn không biết cười biết nói
Cũng không rõ trai hay là gái
Một con người không đủ con người
Đau đớn này không dễ khuây nguôi
Dù kết cuộc ta là người chiến thắng
Đau đớn thảm thương cho thằng bạn
Tau khóc mi cho cạn nỗi lòng
Dưới suối vàng mi có thấu hay không
Kỳ Anh 2004

Cựu đại tá Trần Xuân Gứng (thứ 2 trái sang)
tham gia chương trình hành hương "đưa quê hương
vào cho đồng đội" năm 2009

Đồng đội Trần Xuân Gứng (bìa trái) và Nguyễn Văn Hưng
(bìa phải) đón đồng đội Lê Bá Dương và con gái Lê Na
trên đường từ Hà Nội về Quảng Trị thắp hương cho các
Bác, các cô chú Liệt Sỹ